UAE MỞ CỬA GẦN 95% DÒNG THUẾ: RỘNG CỬA CHO HÀNG VIỆT VÀO THỊ TRƯỜNG 4 NGHÌN TỶ USD
Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 94,9% số dòng thuế, Israel tự do hóa 92,7% số dòng thuế cho hàng hóa Việt Nam. Cùng với đà tăng trưởng mạnh tại thị trường Ấn Độ, các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới đang mở thêm không gian xuất khẩu cho nông sản, thủy sản, gia vị, dệt may và đồ gỗ Việt Nam vào khu vực Trung Đông – Nam Á, nơi có nhu cầu nhập khẩu lớn và sức mua ngày càng gia tăng.

Cá tra đang rất được ưa chuộng tại các hệ thống siêu thị lớn của UAE.
Từ UAE đến Ấn Độ: Không gian xuất khẩu mới cho hàng Việt
Lần đầu tiên, hàng hóa Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường UAE với mức ưu đãi thuế quan sâu rộng. Theo cam kết trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA), có hiệu lực từ ngày 3/2/2026, UAE mở cửa 94,9% số dòng thuế đối với hàng hóa Việt Nam. Trong đó, 74,2% số dòng thuế được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực và tỷ lệ này sẽ tăng lên 89,2% sau 5 năm thực thi. Con số này không chỉ mang ý nghĩa về thuế quan.
Với giới xuất khẩu, đây được xem là tấm vé để hàng Việt thâm nhập sâu hơn vào một trong những trung tâm thương mại lớn nhất khu vực Trung Đông.

Muốn tận dụng ưu đãi thuế quan từ CEPA hay VIFTA, doanh nghiệp phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, điều tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít doanh nghiệp còn lúng túng. Cơ hội từ các FTA mới là rất rõ ràng nhưng việc tận dụng hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị bài bản hơn.
Ông Trần Thanh Hải
UAE hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Tây Á, đồng thời là đầu mối trung chuyển hàng hóa quan trọng kết nối các thị trường vùng Vịnh, châu Phi và châu Âu. Việc hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan tại UAE vì thế không chỉ mở rộng cơ hội ở một quốc gia mà còn tạo điều kiện tiếp cận một không gian thị trường rộng lớn hơn.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục XNK (Bộ Công Thương), hàng hóa Việt Nam có thể tiếp cận thị trường UAE với mức thuế ưu đãi đặc biệt, mở ra cánh cửa vào không chỉ một quốc gia, mà còn là cửa ngõ tới toàn bộ khu vực Trung Đông rộng lớn với hơn 400 triệu dân và GDP vượt 4 nghìn tỷ USD.
Không chỉ UAE, cánh cửa vào Trung Đông tiếp tục được mở rộng thông qua FTA Việt Nam – Israel (VIFTA), có hiệu lực từ tháng 11/2024. Theo cam kết, Israel tự do hóa 92,7% số dòng thuế đối với hàng hóa Việt Nam, trong đó 66,3% số dòng thuế được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực. Những ưu đãi này đang dần phản ánh vào dòng chảy thương mại giữa hai nước. Năm 2025, kim ngạch thương mại Việt Nam – Israel đạt 3,6 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2024.
Trong khi đó, tại Nam Á, thị trường Ấn Độ tiếp tục nổi lên như một điểm sáng của xuất khẩu Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 16,46 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và gấp khoảng 3 lần so với năm 2016.
Riêng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 10,3 tỷ USD, tăng 14,2%. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý I/2026 khi kim ngạch xuất khẩu tăng thêm 28% so với cùng kỳ năm 2025.
Những con số này cho thấy, Trung Đông và Nam Á đang dần trở thành khu vực tăng trưởng đáng chú ý của hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng chú trọng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Thêm cơ hội cho nông sản, thủy sản, gia vị Việt
Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ các hiệp định đã có hiệu lực. Việt Nam hiện đang thúc đẩy đàm phán FTA do với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), đồng thời tham gia quá trình rà soát, nâng cấp Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIGA). Nếu các tiến trình này đạt kết quả tích cực, dư địa tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục được mở rộng.
Số liệu thống kê của Cục XNK cho thấy, GCC gồm 6 nền kinh tế là Saudi Arabia, UAE, Qatar, Kuwait, Oman và Bahrain, với tổng GDP khoảng 2.000 tỷ USD. Đáng chú ý, khu vực này phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ bên ngoài khi khoảng 80-90% nhu cầu lương thực phải nhập khẩu. Đây là yếu tố tạo ra cơ hội đáng kể cho các mặt hàng nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến và nhiều ngành hàng thế mạnh của Việt Nam.
Hiện Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng hồ tiêu nhập khẩu của khu vực Trung Đông. Đối với quế, Việt Nam đang cung cấp tới 90% nhu cầu của khu vực Nam Á, chủ yếu cho các thị trường Ấn Độ và Bangladesh. Xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm nay. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu và gia vị đã đạt hơn 982 triệu USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong nhóm hàng xuất khẩu, gia vị đang nổi lên là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý.
Trong năm 2025, xuất khẩu hồ tiêu và gia vị Việt Nam đạt trên 2,1 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Hiện Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng hồ tiêu nhập khẩu của khu vực Trung Đông.
Đối với quế, Việt Nam đang cung cấp tới 90% nhu cầu của khu vực Nam Á, chủ yếu cho các thị trường Ấn Độ và Bangladesh. Xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm nay.
Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu và gia vị đã đạt hơn 982 triệu USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh gia vị, các nhóm hàng nông sản, thủy sản, dệt may, đồ gỗ và thực phẩm chế biến cũng được đánh giá còn nhiều dư địa mở rộng thị phần nhờ nhu cầu tiêu dùng lớn tại khu vực.
Tuy nhiên, cơ hội thị trường không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hóa thành đơn hàng. Một trong những rào cản quan trọng hiện nay là yêu cầu về chứng nhận Halal đối với thực phẩm và nhiều sản phẩm phục vụ người tiêu dùng Hồi giáo.
Theo Cục XNK, quy mô thị trường thực phẩm Halal toàn cầu đã vượt 2.700 tỷ USD vào năm 2024 và gần đây đang tăng trưởng khoảng 8-9% mỗi năm. Trong khi đó, giá trị xuất khẩu nông sản và thủy sản có chứng nhận Halal của Việt Nam sang Trung Đông mới đạt khoảng 700 triệu USD, tương đối khiêm tốn so với quy mô thị trường.
Đối với UAE, các sản phẩm thực phẩm không có chứng nhận Halal hợp lệ từ tổ chức được nước sở tại công nhận sẽ không được thông quan. Nhiều thị trường lớn khác như Ả Rập Xê-út, Malaysia hay Indonesia cũng áp dụng các cơ chế chứng nhận riêng và thường xuyên cập nhật danh sách tổ chức được công nhận.
Song song với các yêu cầu về Halal, doanh nghiệp còn phải đáp ứng đầy đủ quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.
Theo Thông tư số 24/2026/TT-BCT, đối với hàng hóa không thuần túy xuất khẩu sang UAE theo CEPA, tiêu chí xuất xứ chung là chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc đáp ứng tỷ lệ giá trị khu vực tối thiểu 35% giá xuất xưởng. Hàng hóa đồng thời phải có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu UAE-VN hợp lệ.
Theo ông Trần Thanh Hải, cơ hội từ các FTA mới là rất rõ ràng nhưng việc tận dụng hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị bài bản hơn. “Muốn tận dụng ưu đãi thuế quan từ CEPA hay VIFTA, doanh nghiệp phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, điều tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít doanh nghiệp còn lúng túng”, ông Hải nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu ngày càng trở nên cấp thiết, việc các FTA với Trung Đông và Nam Á đồng loạt đi vào thực thi đang mở ra thêm một hướng tăng trưởng mới cho nhiều ngành hàng chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng chuyển hóa các ưu đãi thuế quan thành thị phần và đơn hàng thực tế vẫn phụ thuộc vào năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, quy tắc xuất xứ và các yêu cầu kỹ thuật của từng đối tác.
Theo Thái Hằng – HẢI QUAN ONLINE
![]() |
| Cá tra đang rất được ưa chuộng tại các hệ thống siêu thị lớn của UAE. |
Từ UAE đến Ấn Độ: Không gian xuất khẩu mới cho hàng Việt
Lần đầu tiên, hàng hóa Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường UAE với mức ưu đãi thuế quan sâu rộng. Theo cam kết trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA), có hiệu lực từ ngày 3/2/2026, UAE mở cửa 94,9% số dòng thuế đối với hàng hóa Việt Nam. Trong đó, 74,2% số dòng thuế được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực và tỷ lệ này sẽ tăng lên 89,2% sau 5 năm thực thi. Con số này không chỉ mang ý nghĩa về thuế quan.
Với giới xuất khẩu, đây được xem là tấm vé để hàng Việt thâm nhập sâu hơn vào một trong những trung tâm thương mại lớn nhất khu vực Trung Đông.
|
UAE hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Tây Á, đồng thời là đầu mối trung chuyển hàng hóa quan trọng kết nối các thị trường vùng Vịnh, châu Phi và châu Âu. Việc hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan tại UAE vì thế không chỉ mở rộng cơ hội ở một quốc gia mà còn tạo điều kiện tiếp cận một không gian thị trường rộng lớn hơn.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục XNK (Bộ Công Thương), hàng hóa Việt Nam có thể tiếp cận thị trường UAE với mức thuế ưu đãi đặc biệt, mở ra cánh cửa vào không chỉ một quốc gia, mà còn là cửa ngõ tới toàn bộ khu vực Trung Đông rộng lớn với hơn 400 triệu dân và GDP vượt 4 nghìn tỷ USD.
Không chỉ UAE, cánh cửa vào Trung Đông tiếp tục được mở rộng thông qua FTA Việt Nam – Israel (VIFTA), có hiệu lực từ tháng 11/2024. Theo cam kết, Israel tự do hóa 92,7% số dòng thuế đối với hàng hóa Việt Nam, trong đó 66,3% số dòng thuế được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực. Những ưu đãi này đang dần phản ánh vào dòng chảy thương mại giữa hai nước. Năm 2025, kim ngạch thương mại Việt Nam – Israel đạt 3,6 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2024.
Trong khi đó, tại Nam Á, thị trường Ấn Độ tiếp tục nổi lên như một điểm sáng của xuất khẩu Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 16,46 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và gấp khoảng 3 lần so với năm 2016.
Riêng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 10,3 tỷ USD, tăng 14,2%. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý I/2026 khi kim ngạch xuất khẩu tăng thêm 28% so với cùng kỳ năm 2025.
Những con số này cho thấy, Trung Đông và Nam Á đang dần trở thành khu vực tăng trưởng đáng chú ý của hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng chú trọng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Thêm cơ hội cho nông sản, thủy sản, gia vị Việt
Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ các hiệp định đã có hiệu lực. Việt Nam hiện đang thúc đẩy đàm phán FTA do với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), đồng thời tham gia quá trình rà soát, nâng cấp Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIGA). Nếu các tiến trình này đạt kết quả tích cực, dư địa tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục được mở rộng.
Số liệu thống kê của Cục XNK cho thấy, GCC gồm 6 nền kinh tế là Saudi Arabia, UAE, Qatar, Kuwait, Oman và Bahrain, với tổng GDP khoảng 2.000 tỷ USD. Đáng chú ý, khu vực này phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ bên ngoài khi khoảng 80-90% nhu cầu lương thực phải nhập khẩu. Đây là yếu tố tạo ra cơ hội đáng kể cho các mặt hàng nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến và nhiều ngành hàng thế mạnh của Việt Nam.
| Hiện Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng hồ tiêu nhập khẩu của khu vực Trung Đông. Đối với quế, Việt Nam đang cung cấp tới 90% nhu cầu của khu vực Nam Á, chủ yếu cho các thị trường Ấn Độ và Bangladesh. Xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm nay. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu và gia vị đã đạt hơn 982 triệu USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025. |
Trong nhóm hàng xuất khẩu, gia vị đang nổi lên là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý.
Trong năm 2025, xuất khẩu hồ tiêu và gia vị Việt Nam đạt trên 2,1 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Hiện Việt Nam chiếm khoảng 60% lượng hồ tiêu nhập khẩu của khu vực Trung Đông.
Đối với quế, Việt Nam đang cung cấp tới 90% nhu cầu của khu vực Nam Á, chủ yếu cho các thị trường Ấn Độ và Bangladesh. Xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm nay.
Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu và gia vị đã đạt hơn 982 triệu USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh gia vị, các nhóm hàng nông sản, thủy sản, dệt may, đồ gỗ và thực phẩm chế biến cũng được đánh giá còn nhiều dư địa mở rộng thị phần nhờ nhu cầu tiêu dùng lớn tại khu vực.
Tuy nhiên, cơ hội thị trường không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hóa thành đơn hàng. Một trong những rào cản quan trọng hiện nay là yêu cầu về chứng nhận Halal đối với thực phẩm và nhiều sản phẩm phục vụ người tiêu dùng Hồi giáo.
Theo Cục XNK, quy mô thị trường thực phẩm Halal toàn cầu đã vượt 2.700 tỷ USD vào năm 2024 và gần đây đang tăng trưởng khoảng 8-9% mỗi năm. Trong khi đó, giá trị xuất khẩu nông sản và thủy sản có chứng nhận Halal của Việt Nam sang Trung Đông mới đạt khoảng 700 triệu USD, tương đối khiêm tốn so với quy mô thị trường.
Đối với UAE, các sản phẩm thực phẩm không có chứng nhận Halal hợp lệ từ tổ chức được nước sở tại công nhận sẽ không được thông quan. Nhiều thị trường lớn khác như Ả Rập Xê-út, Malaysia hay Indonesia cũng áp dụng các cơ chế chứng nhận riêng và thường xuyên cập nhật danh sách tổ chức được công nhận.
Song song với các yêu cầu về Halal, doanh nghiệp còn phải đáp ứng đầy đủ quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.
Theo Thông tư số 24/2026/TT-BCT, đối với hàng hóa không thuần túy xuất khẩu sang UAE theo CEPA, tiêu chí xuất xứ chung là chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc đáp ứng tỷ lệ giá trị khu vực tối thiểu 35% giá xuất xưởng. Hàng hóa đồng thời phải có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu UAE-VN hợp lệ.
Theo ông Trần Thanh Hải, cơ hội từ các FTA mới là rất rõ ràng nhưng việc tận dụng hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị bài bản hơn. “Muốn tận dụng ưu đãi thuế quan từ CEPA hay VIFTA, doanh nghiệp phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, điều tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít doanh nghiệp còn lúng túng”, ông Hải nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu ngày càng trở nên cấp thiết, việc các FTA với Trung Đông và Nam Á đồng loạt đi vào thực thi đang mở ra thêm một hướng tăng trưởng mới cho nhiều ngành hàng chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng chuyển hóa các ưu đãi thuế quan thành thị phần và đơn hàng thực tế vẫn phụ thuộc vào năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, quy tắc xuất xứ và các yêu cầu kỹ thuật của từng đối tác.
Theo Thái Hằng – HẢI QUAN ONLINE

