HỢP TÁC QUỐC TẾ GỠ NHIỀU NÚT THẮT PHÁT TRIỂN CẢNG BIỂN – LOGISTICS

Ngày 11/9, trong khuôn khổ Đối thoại Hữu nghị lần thứ 3 năm 2026 (FD 2026) diễn ra phiên đối thoại chuyên đề về hợp tác phát triển cảng biển – logistics. Các đại biểu ủng hộ sáng kiến nghiên cứu cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng trong mạng lưới Thành phố hữu nghị, hướng tới giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi cung ứng.
Hải quan Cái Mép Ảnh: T,.H
Tân cảng- Cái Mép đón tàu siêu trọng, với 24.000 TEU Ảnh: Thu Hòa

Đẩy mạnh kết nối đa phương thức

Chia sẻ trước gần 500 đại biểu trong nước và quốc tế, bà Đặng Thị Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và cảng biển TP. Hồ Chí Minh cho biết, cụm cảng nước sâu Cái Mép- Thị Vải hiện đón trực tiếp tàu có tải trọng khoảng 24.000 TEU, tương đương 250.000 tấn hàng; sản lượng container tăng khoảng 7-9% mỗi năm.

Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở sự thiếu đồng bộ trong liên kết giữa TP. Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận. Khu vực này chiếm khoảng 45% GDP, trong khi chi phí logistics vẫn ở mức cao, khoảng 18% GDP. Nguyên nhân không hẳn nằm ở thiếu kho bãi hay cảng biển, mà ở khả năng kết nối và tổ chức vận hành đồng bộ của toàn khu vực.

Theo bà Minh Phương, tiềm năng của hệ thống cảng nước sâu chưa được khai thác đầy đủ, trong khi giao thông liên vùng còn nhiều bất cập. Đặc biệt, vận tải thủy nội địa chưa phát huy đúng vai trò do thiếu các ICD và bến thủy nội địa vệ tinh để gom, phân phối hàng hóa từ khu vực hậu phương về cảng biển.

Do đó, yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế điều phối vùng, thực chất là quy hoạch đồng bộ hạ tầng và logistics giữa các địa phương; xóa bỏ tư duy phát triển riêng lẻ, đồng thời hình thành cơ chế “luồng xanh logistics” để hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi hơn.

Cùng với đó, cần đẩy nhanh các dự án đường vành đai, cao tốc, đường liên cảng và các công trình kết nối đa phương thức; phát triển hệ thống vận tải thủy nội địa, hình thành các điểm gom hàng kết nối trực tiếp với các tỉnh, thành. Việc chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và số hóa cảng biển dùng chung cũng được xem là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả khai thác.

Ở góc độ kết nối cảng biển, ông Trương Tấn Lộc, Giám đốc Marketing Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn kiêm Chủ tịch HĐTV cảng Quốc tế – Tân Cảng Cái Mép cho rằng, để Cái Mép trở thành cảng trung chuyển quốc tế, bên cạnh đường bộ và đường thủy, cần đặc biệt quan tâm phát triển đường sắt. Theo ông, cần thúc đẩy tuyến đường sắt kết nối với cụm cảng Cái Mép, qua đó rút ngắn thời gian vận chuyển và giảm chi phí logistics.

Ông Trương Tấn Lộc cũng nhấn mạnh vai trò của vận tải thủy đối với khu vực Cái Mép. Các cảng cần được kết nối với khu vực hậu phương thông qua hệ thống sông Cái Mép, Lòng Tàu, Soài Rạp. Vì vậy, cần phát triển thêm các bến thủy nội địa phía sau cảng để kết nối hàng hóa bằng sà lan, đồng thời nâng cao tĩnh không các cầu nhằm bảo đảm phương tiện thủy lưu thông thuận lợi.

Theo ông Trương Tấn Lộc, khi đường bộ, đường sắt và đường thủy được kết nối đồng bộ, vận tải đa phương thức sẽ có điều kiện phát triển. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cảng cửa ngõ và hướng tới xây dựng Cái Mép trở thành cảng trung chuyển quốc tế.

Từ cảng mạnh đến hệ sinh thái logistics mạnh

Từ góc độ doanh nghiệp, bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty CP Cảng quốc tế QTM, cho rằng yêu cầu của khách hàng đối với cảng biển hiện nay đã thay đổi. Khách hàng không chỉ quan tâm hàng hóa được xếp dỡ tại cảng nhanh hay chậm, mà quan tâm toàn bộ hành trình từ nơi sản xuất đến thị trường, tổng chi phí của chuỗi, mức độ minh bạch thông tin cũng như sự ổn định, an toàn và bền vững của chuỗi cung ứng.

Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của một cảng ngày càng phụ thuộc vào cả hệ sinh thái xung quanh, từ giao thông, kho bãi, trung tâm logistics, vận tải đường bộ và đường thủy đến công nghệ, dữ liệu, thủ tục và các doanh nghiệp dịch vụ.

“Một cảng mạnh chưa chắc tạo nên một chuỗi logistics mạnh. Nhưng một hệ sinh thái logistics mạnh chắc chắn sẽ làm cho cảng cạnh tranh hơn”, bà Ngô Thị Thanh Vy nhấn mạnh.

Từ thực tiễn doanh nghiệp, đại diện Công ty CP Cảng quốc tế QTM đề xuất sau FD 2026, TP. Hồ Chí Minh có thể lựa chọn một số thành phố cảng đối tác có tính bổ trợ và có quan hệ thương mại thực chất với Thành phố để xây dựng các chương trình hợp tác chuyên sâu về cảng biển và logistics.

Hợp tác quốc tế gỡ nhiều nút thắt phát triển cảng biển - logistics
Bà Đặng Thị Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và cảng biển TP. Hồ Chí Minh chia sẻ tại phiên đối thoại chuyên đề. Ảnh: Thu Hòa

Các đại biểu tại phiên đối thoại cũng ủng hộ sáng kiến nghiên cứu cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng trong mạng lưới Thành phố hữu nghị. Nếu được hình thành, cơ chế này sẽ tạo diễn đàn thường xuyên để các đô thị cảng trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ dữ liệu, mở rộng liên kết và phối hợp, hướng tới đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững mới.

Hợp tác quốc tế, tháo gỡ điểm nghẽn

Theo ông Phạm Dứt Điểm, Giám đốc Sở Ngoại vụ TP. Hồ Chí Minh, cảng biển và logistics là cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của Thành phố, song đang đối mặt với những thách thức về chi phí, hạ tầng kết nối đa phương thức và yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng cao từ các thị trường xuất khẩu lớn.

Do đó, hợp tác quốc tế và ngoại giao kinh tế có thể giúp Thành phố khơi thông ba nhóm nút thắt lớn. Thứ nhất là vốn và hạ tầng chiến lược. Để triển khai các dự án quy mô lớn như Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, đồng thời nâng cao năng lực kết nối giữa cảng Cái Mép – Thị Vải, cảng Cần Giờ, cảng Hiệp Phước và cảng Cát Lái, Thành phố cần nguồn lực đầu tư lớn. Hợp tác quốc tế có thể mở thêm các nguồn tài chính như ODA xanh, tín dụng khí hậu và nguồn vốn ưu đãi cho hạ tầng chiến lược. Việc hợp tác với các tập đoàn logistics toàn cầu cũng tạo cơ hội hình thành những mô hình logistics mới gắn với cảng biển.

Thứ hai là tiêu chuẩn xanh và công nghệ quản trị. Các yêu cầu về ESG, kiểm kê carbon và CBAM đang ngày càng tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng. Vì vậy, chuyển đổi xanh và số hóa không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu để duy trì sức cạnh tranh. Thông qua hợp tác quốc tế, Thành phố có thể tiếp nhận công nghệ vận hành cảng thông minh, tự động hóa và số hóa chuỗi cung ứng, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch phục vụ các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ ba là thể chế quản trị và kết nối chuỗi cung ứng. Cảng biển và logistics không thể phát triển hiệu quả nếu thiếu liên kết giữa các địa phương và kết nối với mạng lưới quốc tế. Cơ chế hợp tác giữa các thành phố cảng sẽ tạo điều kiện để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, dữ liệu, tối ưu hóa vận tải và phối hợp ứng phó với những thách thức chung.

Từ những đề xuất tại FD 2026, hợp tác quốc tế đang được nhìn nhận không chỉ là kênh mở rộng quan hệ đối ngoại, mà còn là công cụ huy động nguồn lực, kinh nghiệm và công nghệ để giải quyết những điểm nghẽn cụ thể của cảng biển – logistics. Đây cũng là hướng để TP. Hồ Chí Minh chuyển từ tư duy kết nối thị trường sang chủ động kiến tạo hệ sinh thái logistics có sức cạnh tranh cao hơn trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Theo Lê Thu – Hải quan Online

0913575247 Mr Đức ducnvtk4@gmail.com